Hiển thị các bài đăng có nhãn Sách Phản bác chống xuyên tạc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sách Phản bác chống xuyên tạc. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2019

HUMAN RIGHTS WATCH HÃY BIẾN ĐI 

NẾU CÒN TỰ TRỌNG




HRW là 1 tổ chức phi chính phủ do Mỹ đứng sau đỡ đầu, dán mác "theo dõi nhân quyền trên trên thế giới". Bản chất là thông qua nó để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, thậm chí, nó còn là công cụ để thực hiện lật đổ các chế độ khác với Mỹ. Chính vì thế, HRW liên tục bị các nước phản đối, thậm chí cấm cửa.

Với Việt Nam, HRW thường xuyên có những hoạt động chọc ngoáy, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của nhà nước. Thực tế, HRW vẫn thường hà hơi tiếp sức cho hầu hết những kẻ chống phá chính quyền, bao gồm cả đám cờ bạc, trộm cắp, đĩ điếm, hay bảo kê trong tôn giáo.



Nhà nước Việt Nam có quyền thực thi luật pháp của mình để bảo vệ an ninh quốc gia. Với những gì HRW đang "cố đấm ăn xôi", dư luận có quyền nghĩ rằng, HRW đang đóng vai trò là một kẻ bảo kê, "gào thuê khóc mướn", chà đạp lên luật pháp và các giá trị đạo đức, nhân văn của xã hội.

Một nạn nhân của quân đội Mỹ bị nhiễm chất độc da cam ở Đà Nẵng nói: "Nếu Human Rights Watch thực sự quan tâm đến nhân quyền của Việt Nam tổ chức này hãy đi tìm công lý trả lại nhân quyền và lẽ công bằng cho nạn nhân nhiễm chất độc màu da cam, hiện còn đang lay lắt trong đau đớn tủi hờn ở Việt Nam. Nếu tử tế thì hãy lên tiếng đi".


Chị Phan Thị Huệ, một nạn nhân của bom mìn Mỹ còn xót lại sau chiến tranh: "Sao HRW không lên tiếng về trường hợp của tôi và của hàng triệu người Việt Nam bị tàn phế do bom mìn của quân đội Mỹ, mà lại đi bênh vực một kẻ dã tâm chống lại dân tộc này? Chúng tôi không cần HRW, không cần các ông khóc mướn. Hãy bỏ thái độ đạo đức giả đó đi. Sự im lặng của các ông cũng đã là góp phần bảo vệ nhân quyền cho chúng tôi rồi.".

Cô Christine Rowlan, giáo viên Toán tại trường Canyon Springs STEM Academy ở Anthem, bang Arizona (Mỹ) đã nói: "Thực tế nhất là HRW hãy lên tiếng bảo vệ nhân quyền cho người da đen và người khuyết tật ngay trên đất Mỹ. Hãy lên án hành động phi nhân tính của cảnh sát Mỹ với người da màu".




Đáng tiếc, cái việc người dân Việt Nam quan tâm thì HRW lại cố tình lảng tránh, không thể hiện được mục đích, tôn chỉ và vai trò bảo vệ nhân quyền quốc tế như họ thường rêu rao. Trái lại, cái mà Nhà nước Việt Nam đang cố công, gắng sức để bảo vệ nhân quyền cho đại đa số người dân thì HRW lại giở trò đạo đức giả, kèm theo những lời đe dọa núp bóng những điều cao cả.




Người dân Việt Nam không cần HRW, và hãy biến đi nếu còn tự trọng. Lãnh đạo Nhà nước của chúng tôi cứ mãi chìu chuộng các ngài nhưng người dân chúng tôi thì tẩy chay HRW, chúng tôi chỉ cần tự do, hoà bình cho đất nước chúng tôi.



Thứ Tư, 4 tháng 7, 2018



 LUẬT AN NINH MẠNG

Luật An ninh mạng đã được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2018 với tỉ lệ tán thành là 86,86%; ngày 28/6/2018, Chủ tịch nước đã ký Lệnh Công bố. Luật An ninh mạng chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2019.


Câu 1. Sự cần thiết phải ban hành Luật An ninh mạng




Hơn 80 quốc gia, tổ chức, liên minh quốc tế như Mỹ, Anh, Đức, Hà Lan, Pháp, Canada, Hàn Quốc, NATO… đã có các văn bản chính sách, văn bản pháp luật như luật hoặc văn bản dưới luật để tạo ra các thiết chế, cơ sở pháp lý chống lại các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia từ không gian mạng.
- Tiềm lực quốc gia về an ninh mạng của nước ta chưa đủ mạnh, chưa huy động, khai thác được sức mạnh tổng hợp để đối phó với các mối đe dọa trên không gian mạng.
- Tình trạng đăng tải thông tin sai sự thật, làm nhục, vu khống tổ chức, cá nhân tràn lan trên không gian mạng nhưng chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu, dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc về nhân mạng, tinh thần, thậm chí ảnh hưởng tới chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
- Việc triển khai hoạt động ứng phó, xử lý, khắc phục hậu quả của cơ quan chức năng có liên quan rất lúng túngchưa có quy trình thống nhất, cơ quan có trách nhiệm bảo vệ an ninh mạng chưa thể chủ động triển khai các biện pháp, phương án phù hợp.
- Nhận thức của các cơ quan, doanh nghiệp và cá nhân về bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng còn hạn chế, ý thức trách nhiệm của nhiều cán bộ, nhân viên trong bảo mật thông tin trên không gian mạng còn chưa cao, chế tài xử phạt chưa đủ răn đe.
- Sự phụ thuộc vào trang thiết bị công nghệ thông tin xuất xứ từ nước ngoài là mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh mạng như tin tặc tấn công, thu thập thông tin, hoạt động tình báo, lộ lọt bí mật nhà nước nếu xảy ra xung đột.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an ninh mạng chưa được xây dựng, các văn bản hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng vi phạm pháp luật.


Câu 2. Mục đích xây dựng Luật An ninh mạng

Hoàn thiện cơ sở pháp lý ổn định về an ninh mạng theo hướng áp dụng các quy định pháp luật một cách đồng bộ, khả thi trong thực tiễn thi hành.
- Phát huy các nguồn lực của đất nước để bảo đảm an ninh mạng, phát triển lĩnh vực an ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
- Bảo vệ chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên không gian mạng, xây dựng môi trường không gian mạng lành mạnh.
- Triển khai công tác an ninh mạng trên phạm vi toàn quốc, đẩy mạnh công tác giám sát, dự báo, ứng phó và diễn tập ứng phó sự cố an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; đảm bảo hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
- Nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng, hoàn thiện chính sách nghiên cứu, phát triển chiến lược, chia sẻ thông tin về an ninh mạng.
- Mở rộng hợp tác quốc tế về an ninh mạng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật trong nước và Điều ước quốc tế mà nước ta tham gia ký kết.


Câu 3. Nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng: gồm 07 chương, 43 điều, quy định những nội dung cơ bản sau:

- Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia;
- Phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng;
- Triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng
- Quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân.


Câu 4. Phạm vi điều chỉnh của Luật An ninh mạng

- Bảo vệ chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, hoạt động hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trước các hành vi vi phạm pháp luật.
- Xử lý tất cả các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
-  Quyền tự do ngôn luận, quyền bày tỏ quan điểm, chính kiến trên không gian mạng không bị điều chỉnh bởi Luật này.


Câu 5. Luật An ninh mạng nghiêm cấm những hành vi nào?


-   Các hành vi chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm sử dụng không gian mạng tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ví dụ như: thông tin kích động biểu tình trái pháp luật, kích động gây rối an ninh, trật tự…
-  Các hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc.
-  Các hành vi phát tán thông tin gây hại cho tổ chức cá nhân, gồm: thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;
-  Các hành vi xâm phạm trật tự an toàn xã hội như sử dụng không gian mạng để hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội. (Những hành vi này đã được quy định rải rác, cụ thể trong 29 điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017).
-  Các hành vi tấn công mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng và liên quan như sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử...


Câu 6. Theo quy định của Luật An ninh mạng, cá nhân có trách nhiệm gì?

-         Không thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm.
-  Kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến bảo vệ an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng, hành vi xâm phạm an ninh mạng cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, lực lượng bảo vệ an ninh mạng.
-  Phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng trong phòng ngừa, xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng vi phạm pháp luật


Câu 7. Theo quy định của Luật An ninh mạng, các cá nhân có những quyền lợi nào?

-  Được bảo vệ khi tham gia hoạt động trên không gian mạng trước các thông tin xấu, độc xâm phạm tới danh dự, uy tín, nhân phẩm, các hoạt động tấn công mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng hoặc các hành vi khác gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
-  Được tham gia thừa hưởng các chính sách về an ninh mạng của Nhà nước như: nghiên cứu phát triển an ninh mạng; nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng; giáo dục, bồi dưỡng kiến thức an ninh mạng.
-  Được trao công cụ để bảo vệ quyền lợi của mình.
-  Trẻ em được bảo vệ đặc biệt trên không gian mạng
-  Được lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, khi lực lượng chuyên trách được trao quyền thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh mạng cần thiết.
-  Quyền lợi của các cá nhân sẽ bảo đảm khi mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật.


Câu 8. Theo Điều 26, Luật An ninh mạng, các nhà cung cấp dịch vụ trên không gian mạng như Google, Facebook chính thức có nghĩa vụ phải đặt máy chủ tại Việt Nam.


Câu 9. Luật An ninh mạng có ý nghĩa, tác dụng như thế nào?

-  Hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân được bảo vệ trước hoạt động tấn công mạng theo quy định của Luật An ninh mạng.
-  Các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ tương xứng với tầm quan trọng đối với an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
-  Quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được bảo vệ trước các hành vi tấn công mạng.
-  Luật An ninh mạng cũng quy định cụ thể cơ chế phối hợp phòng, chống tấn công mạng của các bộ, ngành chức năng, xác định trách nhiệm cụ thể của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ trong phòng, chống tấn công mạng.


Tóm lại:
-  Không có quy định nào cấm Facebook, Google hoặc các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
-  Không có quy định nào ngăn cản quyền tự do ngôn luận, quyền bày tò quan điểm của công dân trên không gian mạng.
-  Không có quy định nào cấm công dân sử dụng các dịch vụ mạng xã hội như Facebook, Google; không cấm công dân tham gia hoạt động trên không gian mạng.
-  Không có quy định nào cấm công dân khởi nghiệp, sáng tạo hay trao đổi, triển khai ý tưởng sáng tạo của mình trên không gian mạng.

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

Chuyên đề 4
VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU
ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

                                
Trong cuộc đu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn là một trong những chủ đề nóng bỏng nhất mà các thế lực thù địch luôn công kích với những luận điệu ngang trái, giả dối và hằn học. Họ cho rằng, chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, thế giới đương đại là thế giới toàn cầu hóa và hội nhập quc tế, hầu hết các nước trên thế giới đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, nên Việt Nam không thể giữ mãi định hướng xã hội chủ nghĩa. Những luận điệu đó không phải không có những tác động nhất định đối với một s người nhẹ dạ, cả tin. Chính vì thế, rt cần phải lý giải một cách cặn kẽ hơn việc Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trong nhiều văn kiện của Đảng ta, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn được khẳng định một cách mạnh mẽ và dứt khoát. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định một trong những bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng nước ta là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết đ thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ vi nhau"1. Văn kiện Đại hội XI của Đảng cũng nhấn mạnh: Trong bt kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường li và mục tiêu đi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng H Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội"2. Văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường li đổi mới"3.
Nhìn ra bên ngoài và nhìn lại lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI vừa qua, chúng ta càng thấy rng sự lựa chọn của Đảng ta, của nhân dân ta là hoàn toàn chính xác.
Như chúng ta biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng chiến thắng nhiều thế lực đế quốc, phong kiến hung hãn. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Liên tiếp n ra các cuộc nổi dậy trên khắp mọi miền đất nước, thu hút đông đo các tng lp nhân dân, các bậc sĩ phu, k cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào Cần Vương, Duy Tân, Đông Du; các cuộc khởi nghĩa Yên Thế; Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp và thất bại. Điều đó chứng tỏ rằng, vẫn là nhân dân giàu lòng yêu nưc, có truyn thng chng giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu nước; còn các bậc sĩ phu, các nhà lãnh đạo các phong trào chống thực dân Pháp đều có trí dũng, không thiếu quyết tâm, nhưng cả họ, cả giai cấp phong kiến và đại diện cho thế lực tư sản khi đó đều không giải quyết được vấn đề dân tộc ở nước ta.
Trong bi cảnh đó, chưa bao giờ như lúc by giờ, độc lập dân tộc càng trở nên là yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam - xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam khi ấy ở trong "tình hình đen tối như không có đường ra". Bằng con đường nào và giai cp nào có khả năng gánh vác sứ mệnh trọng đại đó? Nhưng rồi chính lịch sử có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch ra cái tt yếu từng bị che lp
bởi màn sương mù trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác khẳng định chủ nghĩa tư bản nhất định bị thay thế bằng một chế độ tốt đẹp hơn - chế độ cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người và người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản chính là giai cấp công nhân - sản phẩm của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị, sau khi nó chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến và đã bành trướng ra khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển khi ấy đang trở thành “trung tâm vũ trụ” chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời sống xã hội loài người.
Nghiên cứu lịch sử xã hội loài người, C.Mác đã khái quát nó qua sự phát triển của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau. Theo quan điểm của C.Mác, sự thay đổi hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác nhất định phải có điều kiện hình thái kinh tế - xã hội cũ đã mất khả năng tự phát triển và trở thành lực cản xã hội. Chủ nghĩa tư bản tất yếu bị thay bằng chủ nghĩa xã hội, và điều đó sẽ xảy ra ở những nước mà chủ nghĩa tư bản phát triển đến đỉnh cao. Chính V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga đã vận dụng sáng tạo các luận điểm của C.Mác vào hoàn cảnh lịch sử của nước Nga bằng việc, trước tiên giai cấp công nhân giành lấy chính quyền, rồi sau đó dựa vào chính quyền của mình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Vậy là, chính vào thời điểm chủ nghĩa tư bản tưởng như đang cực thịnh ấy, thì cách mạng Tháng Mười nổ ra. Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới. Nếu trước cách mạng Tháng Mười, chế độ tư bản chủ nghĩa phát triển đến mức người ta rêu rao như một “định mệnh”, như một “ trật tự vĩnh hằng”, thì sau tháng Mười năm 1917, không ai không thấy cái “xiềng xích” giam hãm thế giới đã bị chặt đứt, điều định mệnh ấy thành ảo tưởng, các trật tự ấy bị lật nhào, tạo ra phản ứng dây chuyền của hàng loạt cuộc đấu tranh giải phóng có quy mô to lớn và chiều sâu cách mạng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.
Rõ ràng, Cách mạng Tháng Mười Nga “rung chuyển thế giới” đã làm cho tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai trò lãnh đạo cách mạng cũng
Thay đổi; vì vậy, con đường để giải quyết mâu thuẫn của xã hội, lực lượng cách mạng cũng
thay đi. Lý tưởng Tháng Mưi không chỉ là ngọn đèn pha dẫn đường ta sáng, mà còn có những đóng góp thc tế to lớn. Cách mạng Tháng Mười là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một trang sử mới của thế giới. Thế giới trước cách mạng Tháng Mười là một thời kỳ u mê, an phận, là thời đại của chủ nghĩa tư bản. Sự đột phá Tháng Mười làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ, mất mát lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh của sự hình thành và phát triển chủ nghĩa xã hội, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bn, làm thay đi cả những yếu tbên trong cùa ch nghĩa tư bn. Cách mạng Tháng Mười là niềm vinh quang của những người vô sản cùng với hang trăm triệu người lao động thành thị và nông thôn nước Nga. H đã lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và phong kiến, giành quyền làm chủ cuộc sống của mình. Đó là thắng lợi của một xu thế mới; độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội và gắn kết với chủ nghĩa xã hội.
Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đưòng, dội vào và thấm sâu trong mnh đt Việt Nam - nơi mà chính sự tàn bạo của ch nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất ri; chủ nghĩa cộng sản ch còn phi làm cái việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa thôi". Hơn ai hết, chính Nguyễn Ái Quc là người gieo mm cho cách mạng Việt Nam. Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với ch nghĩa xã hội. Ở Người, ch nghĩa yêu nước Việt Nam, bn lĩnh và t cht đặc biệt Việt Nam đã "bắt gặp" ch nghĩa Mác - Lênin, nói như Cố Th tướng Phạm Văn Đng - một cuộc gặp gỡ đẹp như cùng hẹn trước - đã hun đúc nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Với kỳ công Nguyn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyn hóa thành một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại: Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tdân tộc và giai cp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng. Vừa ra đời, Đảng tuyên bố: "chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi ti xã hội cộng sản". Lời tuyên bố ấy cũng đng nghĩa với lời bác bỏ thẳng thừng chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa; và nhìn rộng hơn bác bỏ bất cứ một con đường nào khác. Một cách tự nhiên là, ngay sau lời tuyên b ấy của Đảng, chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử n tộc Việt Nam chuyn mình, là con đường dân tộc Việt Nam đã và đang đi dọc theo thế kỷ XX, sang thế kỷ XXI và tiếp tục cho tới đích cuối cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ; chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc nguồn gốc, có một xã hội tốt lành gắn liền với tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, m no; bảo đảm việc làm cho mọi người, tất cả vì niềm vui, hòa bình, hạnh phúc của con người.
Rõ ràng, sự lựa chọn mục tiêu đc lp dân tc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về lôgíc là một tất yếu khách quan; xét về lch s, là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; xét về nhu cầu, là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của mt nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; và xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản nhất quyết định sự phát triển của đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau.
Có th khẳng định như vậy, bởi vì việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc theo ý thức hệ phong kiến và tư sản, trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa không tránh khỏi những mâu thuẫn và những hạn chế bắt nguồn t bản chất kinh tế và chính trị của các chế độ ấy - những hình thái kinh tế - xã hội dựa trên các quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất và các quan hệ đối kháng giai cấp.
Vượt qua những mâu thuẫn và những hạn chế trong công việc giải quyết vấn đề độc lập theo lập trường phong kiến và tư sn chỉ th là con đưng gn liền đc lp dân tc với chủ nghĩa hi, tc là giải quyết độc lập dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là: Độc lập dân tộc thực sự phải là độc lập về chính trị, kinh tế; văn hóa đối ngoại. Độc lập dân tộc thực sự đòi hỏi phải xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột và nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác v kinh tế, chính tr và tinh thn. Do đó, độc lp gắn liền với tự do và bình đẳng, công việc nội bộ quốc gia - dân tộc phải do quc gia - dân tộc đó giải quyết, không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Bản chất của chủ nghĩa xã hội là thực hiện triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chủ nghĩa xã hội sẽ xóa bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra. Nhờ đó, nó xóa bỏ cơ sở kinh tế sinh ra ách áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh thần, ý thức và tư tưởng.
Chủ nghĩa xã hội thực hiện độc lập dân tộc để mở đường đưa dân tộc tới sự phát triển phồn vinh về kinh tế và sự phát triển phong phú, đa dạng về văn hóa, tinh thần, sự thực hiện đy đủ nhất quyền lực của nhân dân. Chỉ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc mới đạt tới mục tiêu phục vụ lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm cho mọi thành viên của cộng  đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự, có cuộc sng vật chất ngày càng đầy đủ và đời sng tinh thần ngày càng phong phú. Chính điều đó làm cho nền tảng của sự độc lập tự chủ ng thêm vững chắc, khả năng bảo vệ nền độc lập dân tộc ng đầy đủ mạnh mẽ.
Sự phát triển thực cht và bền vững của độc lập dân tộc được đo bằng những khả năng và điều kiện bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi tình cảnh nô lệ, phụ thuộc, bị áp bức, bóc lột và dịch. Nó cũng bảo đảm cho dân tộc vượt qua tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan vi các dân tộc khác trên thế giới và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đổng dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác.
Toàn bộ khả năng và điều kiện bảo đảm đó chỉ có thể được tìm thấy và giải quyết bằng con đường phát triển chủ nghĩa xã hội.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tr thành hệ giá trị phát trin của Việt Nam, dưới ngọn cờ ca Đng, trong thi đại nay. Đó cũng chính là cái lôgíc phát trin lịch s của dân tộc Việt Nam 87 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, làm nên cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trước thế giới.
Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá tr đó từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sn Việt Nam do Chủ tịch H Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân phong kiến, lập nên nưc Việt Nam Dân ch Cộng hòa, đưa nưóc ta tiến vào k nguyên độc lập, tự do; thắng li của các cuộc kháng chiến chng xâm lược mà đnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thng nhất đất nước bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Qua hơn 70 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng ch nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt 30 năm đi mi, vi hệ giá trị đó, Đảng Cộng sàn Việt Nam xứng đáng tiêu biu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đã t rõ tính độc lập, tự ch trong mọi đưng lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa na phong kiến tr thành một quốc gia độc lập, tự do, phát trin theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã tr thành người ch đất nước, làm ch xã hi; đt c ta ra khỏi tình trạng đói nghèo, kém phát triển, đang đy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; có quan hệ quốc tế ngày càng rộng mở, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Tất nhiên trong suốt hành trình cách mạng sáng tạo cũng gặp phải nhiều trở ngại, gian nan, chúng ta không tránh khỏi những hạn chế, yếu kém khi thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của việc xây dựng nền độc lập dân tộc và hướng tới chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu,nhu cầu,cương lĩnh hành động, ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực,niềm tin sắt son của dân tộc Việt Nam ta. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay mai sau.
Đã qua gần 2 thập kỷ đu của thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đng quốc tế. Thế gii đã chứng kiến bao cảnh đau thương của nhiều dân tộc ở châu Phi, ở Trung Đông, dù đã giành được độc lập nhưng đất nước bị hoang tàn bởi các xung đột chia rẽ trong nội bộ và sự can thiệp từ bên ngoài. Ngay những nước cạnh ta như Thái Lan, Campuchia, dù có độc lập dân tộc nhưng việc tranh giành giữa các lực lượng chính trị trong nước làm cho tình hình luôn nóng bỏng, cuộc sống của nhân dân không được bình yên. Vậy nên, dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với xu thế toàn cầu hóa, với tất cả mt tích cực và tiêu cực, bất trắc; dù cho ai đó bị lóa mắt bởi những bộ áo cánh sặc sỡ của chủ nghĩa tư bản thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc bảo phù hợp xu thế thời đại. Mãi mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiếp tục giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới.


1.      Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.2, tr.2.
2.      1,2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.65, 21.
3.      Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.46.



              GS.TS. VŨ VĂN HIN
Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương.


PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Viết cho ngày 8/3 của những người không được tặng hoa

 MÙA HOA KHÔNG TÊN Người phụ nữ không có ngày 8 tháng 3  Không hoa hồng, trân quý có quà tặng Họ yên tĩnh lắng nghe người khác Bước chân đời...